Tuesday, December 18, 2012

Mô hình Fondue



Về khái niệm thuộc UML:
Struct Diagram = Class + Ọnect + Package + Component + Composite + Deployment
Behaviour = Use Case + Activity + State Machine + Interaction
Interaction = Sequence + Communication + Timing

1. Giới thiệu bài toán
Có thể dùng Class và Activity Diagram để miêu ta bài toán.
2. Xác định yêu cầu: dùng Use Case và Domain
+ Use Case: gồm UC Diagram và Description.
+ Domain Model ( UML Class Diagram): miêu tả các đối tượng liên quan dến hệ thống.
3. Phân tích:
a) Về mặt cấu trúc:
+ Environment Model ( Communication Diagram): miêu tả giao diện hệ thống, giới hạn, message vào, ra.
+ Concept Model (UML Class Diagram): miêu tả các khái niệm thuộc hệ thống.
b) Vể mặt hành vi:
+ Operation Model ( OCL Pre, Post Condition): miêu tả hoạt động của một Sýtem Operation với khía cạnh thay đổi giá trị thuộc Concept Model
+ Protocol Model ( UML State, Sequence Diagram): dãy biến đối trạng tháu của hệ thống khi System Openration xảy ra.
4. Thiết kế
- Interaction Model (Communication hoặc Sequence Digrams): Mô tả cách System Operation thực thi bằng kết nối các đối tượng trong lúc chạy chương trình.
- Dependency Model ( UML Class Diagram) thể hiện sự phụ thuộc phía trong của các lớp
- Design Class Model ( UML Class Diagram): Miêu tả cấu trúc tĩnh của lớp thiết kế.
- Inheritance Model ( UML Class Diagram): Miêu tả quan hệ kế thừa của các lớp trong thiết kế.
 

Saturday, December 1, 2012

Chỉ số trích dẫn ISI và việc đánh giá khoa học Việt Nam

<<Trích http://huc.edu.vn/>>

Phùng Hồ Hải

Điểm quan trọng nhất tạo nên tên tuổi của ISI chính là vì họ đã đáp ứng được yêu cầu của các nhà quản lý khoa học, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Đó là việc đưa ra đánh giá tổng quan một công trình khoa học, một tạp chí khoa học hay một nhà khoa học chỉ bằng một con số. Việc đánh giá cũng tỏ ra hết sức khách quan và minh bạch. Vấn đề là ở chỗ nó có chính xác không và nó có thể bị lợi dụng không. Do vậy việc sử dụng dịch vụ của ISI trong đánh giá khoa học là cần thiết, nhưng việc dựa hoàn toàn vào dịch vụ này trong đánh giá nghiên cứu là sai lầm lớn hơn nhiều so với việc hoàn toàn không sử dụng nó.
ISI và những hệ lụy
Được thành lập từ năm 1960, Viện Thông tin khoa học (ISI) ngày nay là một công ty con của Thompson Reuters Corporation. Công ty này cung cấp dịch vụ  tra cứu thông tin khoa học. Ý tưởng cung cấp dịch vụ tra cứu thông tin khoa học không phải là ý tưởng mới của ISI. Chẳng hạn trong Toán học, nó đã được thực hiện từ năm 1931 bởi tạp chí mang tên ZentralBlatt MATH của Đức. Hiện nay trong toán học có tới 3 tạp chí tra cứu thông tin thường gọi là tạp chí review: ZentralBlatt MATH, Mathematical Review của Mĩ (xuất bản từ năm 1940) và Referativny Zhurnal của Nga (xuất bản từ năm 1952)1. Ngoài những thông tin cơ hữu về một công bố, dịch vụ quan trọng nhất mà các tạp chí này cung cấp là một bài bình luận (review) về nội dung của công bố đó, do một nhà khoa học gần chuyên ngành với các tác giả viết. Đã có không ít trường hợp các công trình "lọt lưới phản biện" được công bố nhưng cuối cùng bị phê phán hoặc chỉ ra chỗ sai trên các tạp chí review. Đối với một nhà toán học, bị phê phán trên một tạp chí review là một thất bại rất nặng nề, đôi người còn vì thế mà tiêu tan cả tiền đồ.

Cho tới cách đây 20 năm trong giới toán có lẽ không ai biết tới ISI. Điểm mới của ISI so với các tạp chí tra cứu ngành toán tại thời điểm đó là dịch vụ tra cứu điện tử. Có thể nói ISI đã đi trước một bước. Năm 1997 khi tôi tới làm việc tại ICTP tôi đã được các đồng nghiệp bên Vật lý giới thiệu về ISI. Khi đó họ cung cấp cho ICTP dịch vụ dưới dạng đĩa CD, với một cái giá cắt cổ mà chỉ có những trung tâm "thừa tiền" như ICTP mới chịu nổi. Tôi có thử tra cứu dịch vụ ISI nhưng chỉ cho vui. Vì dịch vụ này chỉ cho tôi biết một bài có bao nhiêu trích dẫn, còn bản thân nó nói gì thì không biết. Vì vậy nó gần như vô nghĩa cho việc nghiên cứu.

Mặc dù các nhà vật lý lý thuyết và các nhà toán học là những người đầu tiên ứng dụng Internet vào dịch vụ khoa học với website đăng tải tiền ấn phẩm xxx.lanl.gov2 của Mĩ. Các tạp chí tra
Cho tới tận ngày hôm nay, đa số các nhà toán học ở Châu Âu hay Mĩ, Nhật, không quan tâm tới ISI. Cách đây vài năm tôi có trao đổi với vài đồng nghiệp gần gũi, đều là biên tập của hai ba tạp chí thuộc hạng tốt nhất trong ngành toán. Tôi phải giải thích khá lâu họ mới "à", "ừ" và nhớ mang máng là có nghe đâu đó về Viện ISI. Xin mở ngoặc thêm rằng nhưng người này là những chuyên gia đầu ngành, vì thế họ biết rõ tạp chí nào là tạp chí tốt, thậm chí họ còn biết tạp chí nào triển vọng sẽ tốt lên hoặc ngược lại, tạp chí nào có tiếng nhưng đang trên đà đi xuống. Dĩ nhiên mối quan tâm của họ chỉ dừng lại ở vài chục tạp chí tốt nhất. Theo thiển ý của tôi, Toán học ở Châu Âu, Mĩ, Nhật, đã vượt qua "ngưỡng" ISI.
cứu ngành Toán và Lý đã chậm chân hơn so với ISI trong việc ứng dụng Internet vào dịch vụ tra cứu khoa học. Nhưng điểm quan trọng nhất tạo nên tên tuổi của ISI chính là vị họ đã đáp ứng được yêu câu của các nhà quản lý khoa học, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Đó là việc đưa ra đánh giá tổng quan một công trình khoa học, một tạp chí khoa học hay một nhà khoa học chỉ bằng một con số. Việc đánh giá cũng tỏ ra hết sức khách quan và minh bạch. Không cần bất cứ một hội đồng nào, chỉ cần một cô thư ký thạo việc cũng có thể sắp hạng tất tật các nhà khoa học từ trên xuống dưới. Không có gì phải phàn nàn về sự minh bạch cũng như khách quan của chỉ số này, nếu so sánh với những phương pháp đánh giá trước đó. Vấn đề là ở chỗ nó có chính xác không và nó có thể bị lợi dụng không. Hãy tưởng tượng tại một cuộc thi Piano, người thắng cuộc sẽ là người chơi lâu nhất. Rõ ràng tiêu chí "chơi lâu nhất" là một tiêu chí rất minh bạch nếu so sánh với các tiêu chí truyền thống khác. Và với tiêu chí này thì chẳng cần ban giám khảo nào nữa cả. Tất nhiên với thời gian ta sẽ cần bác sỹ, để kiểm tra xem các nghệ sĩ Piano có sử dụng doping hay không. Tình trạng "doping trích dẫn" cũng đang xảy ra trong khoa học.

Có lẽ các nhà toán học, trong đó có cả các nhà thống kê học, là những người dị ứng nhất với "chỉ số trích dẫn" của ISI. Liên đoàn Toán học thế giới (IMU), cơ quan có uy tín nhất của cộng đồng toán học thế giới3 , đã lập ra một ủy ban điều tra về sự lạm dụng chỉ số trích dẫn. Ủy ban này, năm 2008 đã đưa ra một báo cáo dài 26 trang4 , chỉ trích nặng nề chỉ số này. Những kết quả chính mà họ rút ra không nằm ngoài suy nghĩ chung của cộng đồng toán học: Chỉ số trích dẫn là một chỉ số cần thiết để góp phần đánh giá một công trình khoa học, một tạp chí hay một nhà khoa học. Nhưng sẽ rất nguy hiểm nếu chỉ sử dụng duy nhất chỉ số này để đánh giá, vì nó, như tất cả các chỉ số thống kê khác, không thể đưa ra được đánh giá chính xác cho một cá thể. Ngoài ra sự chính xác cũng như khách quan của nó cũng không được kiểm chứng.

Gần đây hơn ông Douglas Arnold, Chủ tịch Hôi toán Ứng dụng và Toán công nghiệp thế giới (SIAM) - một hội thành viên của IMU, có bài viết nhan đề "Khi sự chính trực bị tấn công", đề cập đến những hệ lụy của chỉ số trích dẫn5 . Trong bài viết của mình Arnold đã chỉ đích danh một tạp chí của một nhà xuất bản uy tín đã ngụy tạo trích dẫn. Ông còn đưa ra cảnh báo về khả năng một nhóm các nhà khoa hay tạp chí cộng tác trong việc ngụy tạo trích dẫn: người này trích của người kia, tạp chí này trích của tạp chí kia, và ngược lại.
ISI để đánh giá khoa học Việt Nam?
Việc Quỹ NAFOSTED sử dụng tiêu chuẩn có công trình đăng trên các tạp chí được ISI thống kê như là một tiêu chí cứng để quyết định việc tài trợ nghiên cứu cho một nhà khoa học, tuy còn thô, nhưng tại thời điểm được sử dụng nó là một tiêu chuẩn khá khách quan và minh bạch. Có thể ví tác động của tiêu chí này tới khoa học Việt Nam như một loại kháng sinh đặc trị cho một cơ thể bị bệnh. Tuy nhiên sẽ có một số  nguy cơ xấu của việc chỉ dựa một mình vào tiêu chí này để đánh giá và xét duyệt đề án, cá nhân:

- Tất cả các chỉ số đều có thể được ngụy tạo. Một khi chỉ số trích dẫn theo ISI được coi là then chốt trong việc đánh giá khoa học, sẽ có rất nhiều tạp chí tìm cách được vào danh sách thống kê của ISI. Họ sẽ tìm nhiều cách để làm việc này, trong đó có thể có cả những cách không đàng hoàng như ngụy tạo trích dẫn, vận động hành lang với các hội đồng xét duyệt của ISI, đưa ra các điều kiện tài chính với ISI như cam kết sử dụng dịch vụ...

- Nếu chất lượng nghiên cứu được đo bằng số công trình, các tác giả sẽ có khuynh hướng chia nhỏ các kết quả để đăng thành nhiều công trình, chạy theo những vấn đề dễ để nhanh chóng có công bố. Đặc biệt phong cách này sẽ dễ được những nghiên cứu viên mới vào nghề tiếp thu, hệ quả là khoa học Việt Nam có thể tăng về lượng nhưng không tăng, thậm chí giảm về chất. Hãy lấy ví dụ của Ngô Bảo Châu. Công trình dày 200 trang của anh, nếu không được cộng đồng quốc tế công nhận qua giải Fields thì cũng chỉ được hội đồng toán của NAFOSTED cho tối đa là 2 điểm. Có nhà khoa học nào tại Việt Nam ở thời điểm này dám bỏ ra 2-3 năm viết một công trình 200 trang để nhận 2 điểm?

- Các tạp chí khoa học của Việt Nam đang bị ảnh hưởng rất tiêu cực bởi tiêu chí ISI. Khi mà không có một tạp chí khoa học nào của Việt Nam nằm trong danh sách ISI thì việc công bố công trình ở các tạp chí đó gần như là vô nghĩa đối với NAFOSTED. Vì thế thậm chí các công trình của nghiên cứu sinh cũng sẽ được gửi ra nước ngoài nếu chúng có một chút chất lượng. Thực tế này đang xảy ra tại hai tạp chí toán uy tín nhất của Việt Nam. Mặc dù Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đang thực hiện các đề án nâng cao chất hai tạp chí này với kinh phí không hề ít so với tổng kinh phí mà NAFOSTED dành cho ngành toán trong 2 năm qua, tình hình cũng chưa có mấy khả quan.

Một số nhà khoa học cho rằng việc các tạp chí Việt Nam bị ảnh hưởng bởi tiêu chí ISI chẳng có gì đáng quan tâm. Quan điểm của họ là: Tôi đăng nhiều bài trên tạp chí ISI chứng tỏ tôi
Việc các nhà quản lý khoa học, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam, sử dụng các thông tin về trích dẫn từ ISI để đánh giá khoa học là điều dễ hiểu. Nền khoa học ở đó yếu, dễ xảy ra tình trạng vàng thau lẫn lộn. Bản thân các nhà quản lý chịu sức ép từ nhiều phía. Một cách tự nhiên họ sẽ thiên về sử dụng những hệ thống đánh giá "nhập khẩu", đã có tên tuổi, nhãn mác. Cũng như với các mặt hàng "tầm trung" khác, các nước này trở thành thị trường tiêm năng nhất của ISI.
giỏi, anh chỉ có bài trong nước rõ ràng anh kém, trắng đen rõ ràng. Nói cách khác, đối với họ, các tạp chí trong nước hoàn toàn không có ý nghĩa. Theo tôi, suy nghĩ có một phần đúng nhưng vô trách nhiệm. Mục đích cuối cùng của chúng ta là có một nên khoa học đích thực, có vị trí trong khu vực và trên thế giới, chứ không phải là một nhóm các nhà khoa học có nhiều công bố ISI được vinh danh dài dài. Nếu chúng ta khuyến khích các nhà khoa học trẻ tìm mọi cách công bố công trình với mác ISI để có nhiều tài trợ nghiên cứu, chúng ta sẽ chỉ lãng phí tiền để tạo ra một tầng lớp ăn bám cổ cồn trắng chứ không bao giờ đạt được mục đích về một nền khoa học tiên tiến. Tôi có thể chỉ ra đích danh một nhóm nghiên cứu trong một lĩnh vực hẹp của toán học ở một nước đang phát triển, có rất nhiều công bố, nhưng đa số là giấy lộn. Lý do của tình trạng này là số tiền tài trợ nghiên cứu của họ được tính theo số công bố khoa học. Một số kiến nghị
Từ những suy nghĩ trên, tôi xin đưa ra một số kiến nghị với Quỹ NAFOSTED nói riêng cũng như cho công tác quản lý khoa học nói chung, theo thứ tự ưu tiên của tính cấp thiết.

1. Tiếp tục sử dụng tiêu chí cứng ISI để đảm bảo chất lượng sàn. Có thể yêu cầu các nhà khoa học chứng tỏ khả năng nghiên cứu của mình bằng khả năng công bố trên các tạp chí ISI, tối thiểu a công trình trong vòng b năm, các số a, b cụ thể phụ thuộc vào thực trạng khoa học của từng ngành. Nhưng ngoài đòi hỏi tối thiểu này cần có chính sách đặc biệt để động viên các nhà khoa học công bố trong nước, trên những tạp chí "điểm" của các ngành. Chẳng hạn coi các tạp chí này ngang hàng với các tạp chí ISI. Thậm chí đối với những nhà khoa học đã có thành tích công bố rất tốt, nên có cơ chế đặc biệt để khuyến khích họ công bố trong nước nhiều hơn6.

2. Thực trạng của các ngành khoa học Việt Nam khác nhau, một số ngành tiếp cận hơn tới trình độ khu vực và thế giới như Toán học và Vật lý. Vì thế hệ thống tiêu chuẩn cần được cân nhắc sao cho phù hợp với từng ngành, tránh tình trạng cào bằng, đẩy anh này lên nhưng lại vô tình gạt anh kia xuống. Các hội đồng ngành là bộ phận tham mưu tốt nhất về các tiêu chí cho ngành của mình.

3. Cố gắng giảm tình trạng đếm cơ học trong đánh giá nghiên cứu (nếu chỉ đếm số công trình thì không cần gì tới chuyên gia). Với một vài ngành
Sẽ rất nguy hiểm nếu chỉ sử dụng duy nhất chỉ số ISI để đánh giá, vì nó, như tất cả các chỉ số thống kê khác, không thể đưa ra được đánh giá chính xác cho một cá thể. Ngoài ra sự chính xác cũng như khách quan của nó cũng không được kiểm chứng.
như Toán học và Vật lý, chuẩn ISI là quá thấp, vì thế cần có các chuẩn đánh giá mịn hơn. Cụ thể đưa ra phân loại tạp chí thành 4-5 nhóm để tham khảo trong việc đánh giá chất lượng công bố. Danh sách này có thể do hội đồng khoa học ngành lập và tham khảo thêm ý kiến của phản biện nước ngoài để tăng tính khách quan7 . Với những ngành khác cũng có thể lập bảng phân loại cho các tạp chí ở trình độ tương ứng với thực trạng của ngành.

4. Chủ trương "thưởng theo công trình" có thể được sử dụng để động viên các nhà khoa học, đặc biệt là những người mới vào nghề, công bố ở các tạp chí có chất lượng. Tuy nhiên cần tránh tình trạng "đếm bài ăn tiền". Chẳng hạn có thể hạn chế số bài được thưởng trong một năm, mặt khác chú ý nhiều hơn tới chất lượng của công trình như trong đề xuất 3. ở trên.

5. Hoàn thiện quá trình đánh giá khoa học theo hướng lấy chuyên gia đánh giá làm nòng cốt. Những đánh giá về một nhà khoa học cụ thể chính xác nhất là những đánh giá do những đồng nghiệp cùng chuyên ngành của anh ta, trong nước hoặc quốc tê, đưa ra. Đánh giá của một cá nhân bao giờ cũng có vẻ chủ quan hơn những con số thống kê, nhưng nếu những đánh giá đó được gắn liền với trách nhiệm và uy tín của người đánh giá thì nó chính xác hơn nhiều. Cuối cùng thì những nhà quản lý khoa học phải dựa vào chính những nhà khoa học để thực hiện công việc quản lý của mình. Vì bản chất của việc quản lý khoa học là để tạo điều kiện cho các nhà khoa học phát huy được hết khả năng của mình.Theo TiaSang

Chú thích:
 1Các địa chỉ mạng là: http://www.zentralblatt-math.org/portal/en/ http://www.ams.org/mathscinethttp://www.viniti.ru/pro_referat.html
  2Dịch vụ này ra đời trước cả dịch vụ sex trên mạng, xem http://en.wikipedia.org/wiki/Arxiv
 3Nơi trao giải thưởng Fields.
  4Xem bản dịch trên Thông tin Toán học www.vms.org.vn
  5Xem bản dịch trên Thông tin Toán học www.vms.org.vn
  6Trong những năm 30 chính quyền Xô Viết đã cấm các nhà khoa học của mình công bố ra nước ngoài, điều đó đã góp phần tạo ra chất lượng cho các tạp chí Xô Viết.
  7Chẳng hạn, Quỹ nghiên cứu của Úc, Australian research council, có một bảng xếp hạng tạp chí của nhiều ngành, có thể tham khảo.

ISI là gì?


ISI là viết tắt của “Institute for Scientific Information”, Viện Thông tin Khoa học. Viện này do Eugene Garfield sáng lập vào năm 1960, sau này công ti Thomson mua lại và nay được biết đến như là Thomson Scientific, một bộ phận thương mại của tập đoàn Reuters. Đây là cơ sở dữ liệu phong phú với hơn 10.000 tài liệu được lựa chọn khách quan và có xử lý của các chuyên gia để phân loại theo các lĩnh vực, trong đó khoa học tự nhiên với hơn 7.100 tài liệu có từ năm 1900 đến nay, khoa học xã hội với hơn 2.100 tài liệu từ năm 1956, nghệ thuật và nhân văn với hơn 1.200 tài liệu từ năm 1975.
Đánh giá của ISI (Institute of Scientific Information) dựa trên hệ số tham khảo của các công bố khoa học cũng còn một số hạn chế, nhưng có lẽ cũng không hy vọng có một phương cách đánh giá nào hoàn hảo có thể thay thế ISI. Thực chất đánh giá của ISI không đơn thuần chỉ là thống kê đơn thuần mà dựa theo hệ số tham khảo, theo đó ISI đã xếp các tạp chí có hệ số tham khảo cao là các tạp chí có uy tín thuộc 2 danh sách là danh sách các tạp chí Scientific Citation Index (SCI) là những tạp chí có hệ số ảnh (impact factor) và danh sách mở rộng (Scientific Citation Index Expanded-SCIE) mặc dù không thống kê IF nhưng cũng thuộc danh sách tạp chí có uy tín. Thực tế danh sách xếp hạng ISI không chỉ là các tạp chí tiếng Anh mà cả các tạp chí công bố ngoài tiếng Anh, mặc dù không nhiều. Trong danh sách hàng chục ngàn tạp chí SCI và SCIE ngoài các các tạp chí xuất bản ở Mỹ, Anh cũng có khá nhiều tạp chí xuất bản ở các nước và khu vực khác nhau trên thế giới.
Tiêu chí đánh giá và thống kê của ISI đã được hầu hết các tổ chức KHCN (viện nghiên cứu, trường đại học) sử dụng làm nguồn tham khảo chính để đánh giá, xếp hạng năng lực nghiên cứu KHCN của một viện, một trường đại học hay một nước. Ngay cả các nhà khoa học ở các nước không nói tiếng Anh như Nga, Pháp Đức v.v. cũng chấp nhận các tiêu chí này. Hiện nay có khá nhiều tạp chí tiếng Anh xuất bản ở Nga có mặt trong danh sách SCI và SCIE. Ngay cả các nhà khoa học Nga nhận tài trợ của Quỹ Nghiên cứu Khoa học Nga (Russian Foundation for Basic Research-RFBR) cũng được khuyến khích có các công bố trên các tạp chí SCI.

Friday, November 23, 2012

Tìm hiểu OpenCV

Tài liệu:
http://sinhvienit.net/@forum/threads/192871-ban-muon-hoi-opencv-la-gi/
Loạt bài viết về hướng dẫn OpenCv
http://vietopencv.com/?cat=3

http://www.emgu.com/wiki/index.php/Shape_%28Triangle,_Rectangle,_Circle,_Line%29_Detection_in_CSharp

Friday, November 16, 2012

Tìm hiểu SVM

Tài liệu tham khảo:
http://www.csie.ntu.edu.tw/~cjlin/libsvm/#csharp
SVM for C#:
http://www.matthewajohnson.org/software/svm.html

Saturday, November 3, 2012

Xếp hạng Alexa và mánh khóe của các website Việt Nam

Alexa là công cụ đánh giá thứ hạng trang Web miễn phí, dựa trên hai chỉ số chính là số trang Web được người dùng xem (page view) và số lượng người truy cập trên trang Web đó (page reach). Tuy nhiên, có nhiều yếu tố nghi ngại về độ chính xác của công cụ này.
Alexa-Traffic-luu-luong-alexa
Alexa chỉ tính toán dựa trên các máy tính mà trình duyệt web có tích hợp thanh công cụ Alexa Toolbar (tiện ích giúp người dùng lướt web). Trong khi đó chính Alexa thống kê chỉ có khoảng 10 triệu máy tính trên khắp thế giới, ước tính khoảng 1% số người dùng Internet, là có sử dụng Alexa Toolbar. Với trang Web tiếng Việt, tỷ lệ máy tính cài đặt Alexa Toolbar thậm chí có thể còn thấp hơn, bởi đơn giản vì Amazon.com, công ty sở hữu Alexa chưa có kênh bán hàng trực tuyến tại Việt Nam và hơn nữa còn từ chối các thanh toán xuất xứ từ Việt Nam.
Bên cạnh đó, giới thạo tin học cho rằng cách thức đánh giá trang Web của Alexa rất dễ bị lợi dụng, biến trang Web “vô danh tiểu tốt” nhanh chóng trở thành một trang Web có thứ hạng. Tuy nhiên, có lẽ do thói quen và sự thiếu hiểu biết về Alexa nên công cụ xếp hạng trang web này vẫn được hầu hết người sử dụng Internet tại Việt Nam coi là tiêu chí hàng đầu để đánh giá trang web. Trong hoạt động quảng cáo trực tuyến, rất nhiều công ty Việt Nam đã dùng Alexa là thước đo để quyết định và tính toán chi phí quảng cáo.
Đua nhau “qua mặt” Alexa
Do những lợi ích từ việc có thứ hạng cao trên Alexa, rất nhiều chiêu thức đã được các web Việt sử dụng để đẩy chỉ số Alexa tăng cao mà chưa hẳn là số lượng truy cập thật. Có cung ắt có cầu. Chỉ cần gõ từ khoá “tăng rank Alexa” trên trang tìm kiếm Google, một danh sách hàng ngàn phần mềm và địa chỉ cung cấp dịch vụ kích chỉ số Alexa đã hiện ngay trước mắt người xem, một số công cụ hiệu quả nhất được kể tên như là AlexaBooster, FakeZilla hay Traffic Maximizer. Có lẽ, việc tăng chỉ số Alexa khá dễ dàng, nên nhiều “nhà cung cấp” dịch vụ này đã mạnh miệng cam kết “hoàn lại 100% phí dịch vụ nếu không đạt thứ hạng theo yêu cầu của khách hàng” hoặc “cam kết tăng 10 ngàn lượt truy cập mỗi ngày”.
>> Hưỡng dẫn tạo toolbar Alexa
Ông Trần Hùng Cường, chuyên gia về mạng cho rằng có nhiều cách để tăng lượng truy cập ảo. Cách phổ biến là cài đặt Alexa Toolbar và đặt trang chủ cho tất cả các máy tính của công ty mình, hay cố gắng lôi kéo nhiều trang web link tới trang chủ của công ty mình để cải thiện thứ hạng. Cũng có trang web tăng truy cập bằng cách sử dụng hoặc thuê mạng botnet (mạng máy tính bị chiếm quyền điều khiển) để tự tấn công từ chối dịch vụ vào trang web của mình. Theo ông Cường thì cách này rất hiệu quả, có thể tăng thứ hạng nhanh mà khó bị Alexa phát hiện vì các truy cập được huy động từ nhiều máy tính, hay cụ thể hơn là từ nhiều địa chỉ IP khác nhau.
Tinh vi hơn một chút thì dùng thủ thuật tạo ra các trang web con (gọi là iFrame) có kích thước cực nhỏ nhúng bên trong trang web chính. Cách làm này tương tự bạn đặt hệ thống đếm người tại mọi cửa ra vào trong nhà nhưng bản thân hệ thống đếm đó lại không biết nhận dạng người vào phòng, như vậy chỉ với khoảng 10 người vào nhà, hệ thống có thể đưa ra con số thống kê lên tới 1.000 người đã bước vào nhà! Đó là chưa kể các đoạn mã nguồn có thể tái khởi động lại các IP truy cập, không khác gì những người bước vào nhà qua cửa sau và lại vào nhà một lần nữa.
Cũng theo ông Cường, một phương pháp nữa đang được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam là dồn lưu lượng, có thể hiểu nôm na là đưa tất cả truy cập của nhiều trang web vào chung một trang web để đẩy xếp hạng của trang web đó lên. Bằng cách này, nhiều trang web Việt Nam mới ra mắt gần đây đã xuất hiện trong top 100 của Việt Nam, thậm chí có trang web Việt chỉ sau thời gian 5 tháng xuất hiện đã nằm trong top 200 trang web hàng đầu thế giới (!).
Phân tích chỉ số truy cập Alexa ở một số trang web hàng đầu ở Việt Nam, không khó tìm ra những trò “qua mặt” Alexa quá lố (như ảnh trên). Những “ngón nghề” này thể hiện cách thức làm ăn chộp giật, tăng thứ hạng (rank) thật mạnh rồi đi lừa những khách hàng thiếu hiểu biết rằng “Alexa là chỉ số quốc tế về đánh giá trang web, tôi đang đứng top 100!, hãy trả tiền quảng cáo cho tôi”. Nhưng sớm muộn gì người dùng cũng sẽ hiểu Alexa chưa hẳn là chính xá
<<http://ngonhaidang.com.vn>>

XẾP HẠNG TOP 100 MẠNG XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM 2012

KHÁI NIỆM :
+ MẠNG XÃ HỘI : Real profile như Facebook, G+, Zingme
+ CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI : NickName : như các Forum
+ Trên Thế giới năm 2012 có 28 loại hình Mạng xã hội và Việt nam có đến 22 loại hình
Ngày 15.2, tại Trung Tâm Pháp Ngữ 24 Tràng tiền Hà Nội đã diễn ra Hội thảo về Social media do Tiến Sĩ Divine - Đại học Paris Pháp và Mr Tuấn Hà – Ceo Vinalink media trình bày. Mr Divine đã đưa ra cái nhìn toàn cảnh về mạng xã hội và áp dụng của nó trong Kinh doanh của các Tập đoàn trên Thế giới tại Châu Âu và Mỹ. Mr Tuấn Hà đã công bố báo cáo xếp hạng Top 100 Mạng xã hội lớn nhất Việt nam, Phân tích 28 loại hình của Mạng xã hội và đặc biệt đưa ra 3 Mô hình áp dụng để tiếp thị Mạng xã hội dành cho Doanh nghiệp nhỏ và cả các Thương hiệu lớn cũng như đưa ra các Case study rất hữu ích về các bài học làm Social Media Marketing tại Việt nam. Qua Slide này những người quan tâm đến SMM đã có thêm cái nhìn toàn diện hơn về Mạng xã hội và Phương pháp triến khai Tiếp thị truyền thông xã hội.

Mr Tuấn Hà đồng thời cũng phân tích các bí quyết tiếp thị thành công của các Thương hiệu trên Mạng xã hội tại Việt nam hiện nay cũng như các bài học có giá trị về phương pháp triển khai Social Media marketing tại Việt nam như Forum seeding flow, Social Group , Ứng dụng SMM trong Search Engine Optimization
XEM SLIDE 1 / 2011 về SOCIAL MEDIA IN VIETNAM
XEM SLIDE 2 /2012 : BÁO CÁO XẾP HẠNG TOP 100 MẠNG XÃ HỘI VIỆT NAM
Theo đại diện Vinalink, dù số lượng thành viên và lưu lượng của Zing Me cao hơn hẳn so với Facebook nhưng nếu xét cả mức độ tương tác giữa các thành viên cũng như sức ảnh hưởng thì không có mạng xã hội nào ở Việt Nam “qua mặt” được Facebook.
Facebook hay Zing Me mới là mạng xã hội số 1 Việt Nam ?
Tháng 2/2012, ông Hà Tuấn Anh, Tổng Giám đốc Vinalink Media đã công bố báo cáo xếp hạng Top 100 Mạng xã hội và các trang web cộng đồng lớn nhất Việt Nam. Theo đó, nếu chỉ xét riêng các mạng xã hội nội và ngoại tại Việt Nam, Facebook đang giữ vị trí dẫn đầu (xếp thứ 2 ở Top bảng xếp hạng chung, sau Youtube). Sau đó là đến Zing Me, Google Plus, Go.vn với vị trí lần lượt là 3, 4 và 13 trong top 100.
Giống với 2 vị trí dẫn đầu của Vinalink, bản báo cáo của hãng nghiên cứu thị trường Cimigo công bố tháng 4/2011 chỉ ra rằng năm 2010, 70% số người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam là thành viên của Facebook, tăng mạnh so với năm 2009 chỉ có khoảng 47%. Mạng xã hội Zing Me đã tăng gấp 3 lần trong vòng 1 năm và leo lên đứng thứ 2, chiếm gần 20% số lượng người sử dụng mạng xã hội. Bản báo cáo người dùng Internet (NetCitizens) Việt Nam 2011 được Hãng nghiên cứu thị trường Cimigo thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 11-12/2010 với hơn 6.200 cuộc phỏng vấn qua điện thoại ở 12 thành phố tại Việt Nam.
Ngược lại với 2 bản báo cáo trên, theo báo cáo ComScore công bố số liệu mới nhất về thị trường trực tuyến Việt Nam vào tháng 8/2011, Zing Me hiện dẫn đầu về số lượng thành viên tại Việt Nam với hơn 3 triệu thành viên, theo sau là Facebook với khoảng 1,4 triệu thành viên, tiếp đến là một số mạng xã hội nhỏ khác như Tamtay, Banbe,…

1a.jpg
Facebook “qua mặt” Zing me trong bảng xếp hàng top 100 của Vinalink.
Facebook chiếm ưu thế về khả năng tương tác và độ ảnh hưởng
Trao đổi với phóng viên báo Bưu điện Việt Nam, ông Hà Tuấn Anh cho biết, xếp hạng top 100 của Vinalink dựa trên 3 tiêu chí, bao gồm lưu lượng (traffic) dựa trên kết quả Alexa và Google Ad Planner (đóng góp khoảng 30% vào kết quả); mức độ, thời gian tương tác giữa các thành viên (50%) và cuối cùng là mức độ ảnh hưởng, tần suất xuất hiện, lan truyền của mạng xã hội, cộng đồng đó đối với người dùng, truyền thông (20%).
Chính vì thế, mặc dù lưu lượng của Zing Me cao hơn hẳn so với Facebook (17 triệu lượt ghé thăm so của Zing Me với 11 triệu lượt của Facebook- số liệu Google Ad Planner) nhưng với 2 tiêu chí còn lại thì Facebook lại hơn hẳn Zing Me như mức độ tương tác của các thành viên Zing Me chỉ bằng 2/3 và mức độ ảnh hưởng thì thua xa so với Facebook, chỉ bằng khoảng 1/2.
Theo ông Tuấn Anh, sở dĩ có sự chênh lệch giữa mức độ tương tác, ảnh hưởng giữa Facebook và Zing Me là do độ tuổi các thành viên tham gia 2 mạng xã hội này. Cụ thể, trong khi các thành viên của Facebook có độ tuổi chủ yếu từ 16 – 29 tuổi thì độ tuổi những thành viên của Zing Me là 14 – 21 tuổi. Do đó, mức độ ảnh hưởng của những vấn đề bàn tán trên Facebook có sức lan rộng hơn Zing Me.
Ngoài ra, còn có một nguyên nhân khác là 70 – 80% người dùng của Zing Me vào để chơi game và đồng thời sử dụng các tính năng mạng xã hội khác, trong khi với Facebook, tỷ lệ người chơi game rất thấp, chỉ 30-40% (còn lại là những người sử dụng duy nhất tính năng mạng xã hội của Facebook).
“Chưa kể đến, độ tuổi thành viên của Facebook thường là 8X trở lên nên online nhiều hơn so với thành viên Zing Me dẫn đến thời gian tương tác lớn hơn hẳn”, ông Tuấn Anh nhấn mạnh.
Xu hướng “thông tường” giữa mạng xã hội và diễn đàn
Ông Tuấn Anh cho rằng, xu hướng phát triển của các mạng xã hội và trang web cộng đồng lớn ở Việt Nam sẽ tập trung vào những giá trị bản địa (local) để tránh sự “thâu tóm” của website nước ngoài và tích cực quảng bá để trở thành vị trí số 1 trong cửa ngách nào đó.
Bên cạnh đó, mạng lưới quảng cáo của các doanh nghiệp như Ad Micro, Vatgia Ad… sẽ mua quảng cáo của những diễn đàn từ lớn cho đến nhỏ. Từ đó, các diễn đàn nhỏ sẽ có nguồn thu để lớn nhanh, chăm chút vào cộng đồng hơn từ các sự kiện offline, nội dung và đi sâu vào chuyên ngành của diễn đàn mình để gia tăng quyền lợi.
“Xu hướng thông tường kết nối giữa các diễn đàn với mạng xã hội như dùng tài khoản Facebook có thể truy cập vào diễn đàn HVA… cũng nở rộ trong thời gian tới. Qua đó, số lượng thành viên của các diễn đàn ở Việt Nam sẽ tăng lên vì không phải đăng ký như hiện tại”, ông Tuấn Anh kết luận.
Theo ông Hà Tuấn Anh – Tổng giám đốc Vinalink Media, Top 100 mạng xã hội và các trang web cộng đồng lớn nhất Việt Nam bao gồm 90 website là của Việt Nam và 10 trang web là của doanh nghiệp nước ngoài. Trong đó, 10 mạng xã hội nước ngoài phủ tới 83% lượng người dùng Internet của Việt Nam.
<<http://www.vietnamwebsite.net>>